Website chạy tốt với IE 8 trở lên và tốt nhất trên Firefox hoặc Chrome - màn hình 1024x768

  • Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

SKKN: Sử dụng kỹ thuật so sánh giảng dạy phần vùng kinh tế, Địa lí 12

I. PHẦN MỞ ĐẦU

-------------------------------------------

          I.1-LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :

          Chủ đề cuối cùng của chương trình địa lý lớp 12 là các nội dung về Địa lý kinh tế - xã hội của các vùng Việt Nam, trong đó có một số nội dung được học ở nhiều  vùng, kể cả các đặc điểm về tự nhiên, dân cư lẫn thế mạnh một số ngành kinh tế . Tuy nhiên , nếu tiến hành giảng dạy chủ đề này theo hướng các bài độc lập nhau, thì thường có tình trạng  giáo viên làm việc, thuyết trình là chủ yếu, tập thể lớp tham gia vào bài học rất ít nên tiết học thường trầm, ít sôi động, học sinh ghi nhớ kiến thức có phần máy móc và thiếu linh hoạt.

 Với ý tưởng giúp các em củng cố các kiến thức về các vùng, nắm được đặc trưng của kinh tế- xã hội từng vùng, đồng thời tìm ra các điểm tương đồng hoặc khác biệt giữa các vùng, giúp học sinh có cơ sở nhớ kiến thức lâu hơn, tôi đã để tâm nghiên cứu, tìm hiểu việc giúp các em tự học và so sánh kiến thức, tạo điều kiện để các em tiếp thu có hiệu quả hơn phần học về kinh tế -xã hội của các vùng.   

          I.2- NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU :

          I.2.1- Nhiệm vụ nghiên cứu :

- Góp phần cùng các đồng nghiệp có thêm một phương pháp để có thể tiến hành dạy phần địa lý kinh tế- xã hội các vùng trong chương trình Địa lý 12 có hiệu quả hơn.

- Giúp các em học sinh có thể tìm ra mối liên hệ giữa các đặc điểm kinh tế- xã hội giữa các vùng, tạo điều kiện để khắc sâu kiến thức.

- Nhằm giúp cho người dạy vận dụng phương pháp dạy học tích cực  hoá các hoạt động của học sinh trong giờ học.

          I.2.2- Phạm vi nghiên cứu :

- Đề tài được triển khai tại một số lớp 12 trường THPT Kon Tum.

          I.2.3- Đối tượng và cơ sở nghiên cứu :

* Đối tượng nghiên cứu :

          Nội dung chương trình Địa lý lớp 12, đặc biệt là phần Địa lí các vùng.

*Cơ sở nghiên cứu:

- So sánh (hoặc so sánh đối chiếu) là một thao tác nghiên cứu được áp dụng trong nhiều ngành khoa học khác nhau. Vai trò quan trọng ít hay nhiều của thao tác nghiên cứu này là tùy thuộc vào đặc điểm bản chất của đối tượng nghiên cứu, vào nhiệm vụ của ngành khoa học nghiên cứu đối tượng ấy. Có những ngành khoa học nếu không vận dụng phương pháp nghiên cứu so sánh thì không thể giải quyết nổi những vấn đề cơ bản phát sinh trong quá trình nghiên cứu đối tượng.

          - Thực tiễn việc dạy và học phần Một số vấn đề phát triển kinh tế-xã hội ở các vùng trong chương trình Địa lý kinh tế- xã hội Việt Nam, lớp 12.

          - Nội dung, khối lượng kiến thức về Địa lý kinh tế- xã hội các vùng có trong chương trình địa lý lớp 12.

          - Các loại biểu mẫu, bài tập có liên quan đến nội dung cần so sánh trongchương trình.

          - Khả năng trình bày, phát hiện các điểm tương đồng và khác biệt giữa các nội dung được học trong chương này của học sinh.

          I.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :

          I.3.1- Tìm hiểu , trao đổi với học sinh :

          Trong quá trình học tập, tôi đã trao đổi với các em học sinh về kỹ năng so sánh mà các em có thể có được, cũng như khả năng có thể tự đọc trước và giải quyết một số nội dung bài học. Việc tìm hiểu, trao đổi này được tiến hành trực tiếp trên lớp bằng các câu hỏi đàm thoại, bằng các yêu cầu học sinh tự so sánh một số vấn đề, đối tượng địa lý có ở trong Sách giáo khoa, trong bài học; ngoài ra trong các giờ nghỉ, giáo viên chủ động gợi ý để học sinh tự bộc bạch những khiếm khuyết của mình về kỹ năng so sánh và những yêu cầu của các em khi học đến phần này. Công việc này giúp giáo viên nắm bắt được cơ bản những vốn liếng kiến thức của học sinh, tuy nhiên đây cũng chỉ là phần đánh giá mang tính định tính nhiều hơn .

          I.3.2- Đánh gía khả năng tự so sánh kiến thức của học sinh :

          Bằng các phiếu thăm dò và một số câu hỏi phát trực tiếp cho học sinh , tôi đã có được cái nhìn chung về kỹ năng so sánh các đối tựơng, sự kiện địa lý tự của các em. Qua việc đọc các phiếu thăm dò , tôi đã phân loại mức độ kỹ năng của học sinh theo các mức độ sau :

* Mức độ 1: Nắm được phần nội dung của các đối tượng cần so sánh và có khả năng phát hiện được các điểm giống và khác nhau giữa các yếu tố được đưa ra so sánh.

* Mức độ 2: Nắm bắt được  nội dung cơ bản của vấn đề, có thể trình bày được nhưng không đầy đủ.

* Mức độ 3: Nắm vấn đề một cách sơ sài, khả năng so sánh yếu, nặng về tính liệt kê các đặc điểm của đối tượng.

* Mức độ 4: Hầu như không biết so sánh.

          Việc đánh giá khả năng so sánh kiến thức của học sinh, ngoài việc giúp giáo viên nắm được tình hình học tập chung của cả lớp, còn là yếu tố giúp giáo viên phát hiện những học sinh có năng khiếu học tập bộ môn, xây dựng những em này thành các hạt nhân trong giờ học, đồng thời giúp cho giáo viên xây dựng cho học sinh các bước, các kỹ năng so sánh để trình bày vấn đề .

I.3.3- Thống kê chất lượng học tập của học sinh :

          Để bổ sung cho việc đánh giá, phân loại học sinh, tôi còn sử dụng kết quả học tập địa lý của năm học trước, điều này ít nhiều sẽ bổ sung cho bảng đánh giá và phân nhóm học sinh, mặc dù kiến thức địa lý lớp 11 là kiến thức Địa lý kinh tế - xã hội thế giới.

          I.3.4-  Trao đổi với đồng nghiệp :

          Việc trao đổi với các giáo viên dạy cùng môn, cùng chương trình cho phép tôi có được cái nhìn tổng quát hơn về khả năng này của học sinh, đồng thời còn là cơ sở để xây dựng các bước cần làm trong quá trình hình thành kỹ năng so sánh cho học sinh, qua đó cho phép tôi xác định hệ thống kỹ năng cần bổ sung, rèn luyện, nâng cao cho các em .

          I.3.5- Thống kê, phân loại lượng kiến thức có thể dùng để so sánh .:

          Để hình dung những kiến thức về địa lý vùng có thể dùng để so sánh, tôi đã tiến hành thống kê các kiểu kiến thức có trong từng bài. Cụ thể như sau:

* Phần khái quát:

                   -Vị trí địa lý của các vùng.

                   - Quy mô lãnh thổ và dân số các vùng.

* Phần đặc điểm nhân văn:

                   -Tác dụng của việc phát triển kinh tế- xã hội ở Trung du, miền núi phía Bắc với Tây Nguyên.

                   - Đặc điểm chung về thành phần dân tộc, nguồn lao động ở Trung du, miền núi phía Bắc với Tây Nguyên.

                   - Đặc điểm dân số, dân cư của  Đồng bằng sông Hồng với Đồng bằng sông Cửu Long.

* Phần kinh tế:

                   - Hiện trạng và khả năng phát triển cây công nghiệp giữa Trung du, miền núi phía Bắc với Tây Nguyên, giữa Tây Nguyên với Đông Nam Bộ.

                   -Tiềm năng, hiện trạng sản xuất lâm nghiệp và thuỷ điện của Trung du, miền núi phía Bắc với Tây Nguyên.

                   - Phát triển kinh tế biển giữa các vùng, trừ Tây Nguyên.

- Thế mạnh về chăn nuôi gia súc lớn giữa Trung du, miền núi phía Bắc với  Tây Nguyên.

-Thế mạnh về khai khoáng giữa Trung du, miền núi phía Bắc với    Đông Nam bộ.

- Hiện trạng và ý nghĩa phát triển công nghiệp, cơ sở hạ tầng ở Duyên hải Nam Trung Bộ với Bắc Trung Bộ.

- Cách thức khai thác lãnh thổ theo chiều sâu (ở Đông Nam Bộ) và theo chiều rộng (5 vùng còn lại)

          Từ những kiến thức cụ thể đó, chúng ta có thể phân loại các nhóm kiến thức có thể đưa ra để so sánh như sau:

          -Nhóm kiến thức về vị trí địa lý các vùng.

          - Nhóm kiến thức về các đặc điểm tự nhiên của các vùng.

          -Nhóm kiến thức về đặc điểm dân số, dân cư.

- Nhóm kiến thức về tiềm năng phát triển 1 số ngành sản xuất.

- Nhóm kiến thức về hiện trạng các ngành sản xuất (thế mạnh).

- Nhóm kiến thức về định hướng phát triển các ngành sản xuất.

II -PHẦN NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ

II.1- THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ :

          II.1.1- Về phía người dạy :

     - Sự eo hẹp về mặt thời gian thực sự là một khó khăn .Trong vòng 45 phút, nội dung cần truyền đạt cho học sinh vừa là những đặc điểm khái quát về tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của vùng, vừa là những đặc điểm chung về dân cư , đồng thời phải xem xét những nhân tố này dưới góc độ là những nguồn lực của sự phát triển, phải trang bị cho học sinh về các thế mạnh đặc trưng cho từng vùng, các vấn đề kinh tế riêng cùng các định hướng phát triển .Vì vậy để đảm bảo về mặt thời gian và lượng kiến thức cần chuyển tải đến học sinh trong tiết học, giáo viên thường tiến hành theo các bước: giáo viên giới thiệu các đặc điểm, gợi ý cho học sinh đánh giá, giáo viên điều chỉnh, nhận xét và kết luận, điều này cho phép người dạy đảm bảo về mặt thời gian nhưng thường làm cho tiết học khô cứng, kiến thức “bám” vào trí nhớ học sinh không đáng kể, nếu xét theo đa số học sinh.

II.1.2- Về phía học sinh :

    - Vốn kỹ năng so sánh có liên quan đến bài học không nhiều, việc đọc trước bàì viết trong sách giáo khoa và ôn lại các kiến thức cần thiết đa số các em không thực hiện, tâm thế đối với giờ học, vì vậy, khá thụ động. 

   - Kỹ năng lựa chọn nội dung để so sánh không nhiều, thông thường các em rơi vào cách mô tả, liệt kê các đặc điểm của 2 hoặc nhiều đối tượng cần so sánh và cho đó là đã so sánh xong, vì vậy  các em không phân biệt được những điểm giống nhau, khác nhau, hơn nhau, kém nhau giữa các đối tượng; điều này dẫn đến tình trạng nhầm lẫn kiến thức trong khi trình bày .

    - Khoảng 1/2 học sinh không nắm được những kiến thức địa lý kinh tế- xã hội cơ bản, một số em nhần lẫn các ngành kinh tế, dân số với dân cư, điều kiện (tiềm năng) phát triển với hiện trạng phát triển ... hoặc một số tiêu chí, đơn vị đánh giá các sản phẩm kinh tế như năng suất, sản lượng, trữ lượng, tỷ trọng, tốc độ tăng trưởng v.v

II.2- NGUYÊN NHÂN CỦA VẤN ĐỀ :

                   Có thể xác định 2 nguyên nhân :

II.2.1- Chủ quan:

Học sinh thường suy nghĩ là chỉ cần học thuộc bài vừa học là đạt yêu cầu, không đặt yêu cầu về mối liên hệ hoặc tương tự giữa các vùng. Bài học quá dài, giáo viên khi kiểm tra hoặc củng cố bài cũng ít chú trọng đến phần so sánh nên học sinh cũng ít có dịp để thực hiện và vì vậy, kiến thức ở từng bài càng trở nên cô lập, khó nhớ đối với học sinh .

          II.2.2- Khách quan:

Nội dung học tập môn Địa lý Việt Nam bị ngắt quãng, ở bậc Trung học cơ sở, các em học Địa lý Việt Nam ở Học kỳ II lớp 8 và cả năm lớp 9, đến lớp 10, học Địa lý kinh tế- xã hội đại cương, Địa lý lớp 11 là Địa lý kinh tế- xã hội thế giới và 1 số nước nên chuỗi kiến thức không được liên tục, nhiều kiến thức Địa lý 12 phải được nhắc nhở lại.

II.3- BIỆN PHÁP THỰC HIỆN :

          Qua tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân của vấn đề, đồng thời để giúp các em học sinh tiếp thu chủ đề này nhẹ nhàng hơn, dễ khắc sâu hơn, có hệ thống và có khả năng vận dụng từ bài học này sang bài học khác, tôi đã ứng dụng một số biện pháp cụ thể như sau :

          II.3.1- Xác định nội dung địa lý có thể dùng để so sánh :

   Như đã trình bày trong phần I.3.5, đối với mỗi bài cụ thể, giáo viên cần xác định những kiến thức có thể so sánh được, qua đó để định lượng thời gian, khối lượng kiến thức và phương pháp phù hợp. Giáo viên cần phải xác định trước trong giáo án những nội dung ghi bảng quan trọng nhất, những kiến thức địa lý có liên quan nhiều nhất đến kiến thức đã học trước đó để làm cơ sở cho học sinh tự học và học theo phương pháp so sánh.

          Ví dụ: Trong bài Duyên hải Nam Trung Bộ, dựa trên cơ sở của bài Bắc Trung Bộ giáo viên có thể tổ chức cho học sinh so sánh theo các nhóm đối tượng sau:

          © Điều kiện sản xuất ngư nghiệp

 Bắc Trung BộDuyên hải Nam Trung Bộ
Quy mô vùng biển  
Khí hậu  
Ngư trường  
Dân số  
Cơ sở hạ tầng  

© Hiện trạng phát triển ngư nghiệp

 Bắc Trung BộDuyên hải Nam Trung Bộ
Sản lượng khai thác  
Sản lượng nuôi trồng  
Bình quân /người  
Khả năng xuất khẩu  

Hoặc trong bài Đông Nam Bộ, để có thể dạy nhanh nhưng học sinh vẫn có thể khắc sâu kiến thức phần I, GV  có thể tổ chức cho học sinh so sánh:

© Đặc điểm tự nhiên :

 Tây NguyênĐông Nam Bộ
Khí hậu  
Nguồn nước  
Vốn đất  
Khoáng sản  
Sinh vật  

          Phần kinh tế biển cũng có thể so sánh theo hướng sau:

 Duyên hải Nam Trung BộĐông Nam Bộ
Các tài nguyên biển  
Các ngành kinh tế biển đã có  
Ngành kinh tế biển chủ đạo  
Hướng phát triển  

          Rõ ràng, việc xác định những kiến thức cơ bản của các phần được đem ra so sánh là cơ sở để giáo viên lựa chọn phương pháp dạy học chủ yếu, chọn các loại đồ dùng dạy học có liên quan để phục vụ cho việc học tập của học sinh. Để tăng cường sự hoạt động của các em, việc xây dựng hệ thống tiêu chí so sánh cần phải do các em chủ động đề xuất, giáo viên chỉ bổ sung, thống nhất và yêu cầu các em từ các tiêu chí đó, rút ra những điểm giống- khác, hơn-kém, thuận lợi- khó khăn để thấy được nét đặc trưng của từng vùng.

                   II.3.2- Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập nhỏ:

          Công việc này tuy đòi hỏi ở người dạy khá nhiều thời gian khi soạn bài, tuy nhiên đây là biện pháp vừa giúp giáo viên có điều kiện kiểm tra, vừa giúp học sinh củng cố kiến thức và rèn luyện các kỹ năng địa lý, đồng thời làm cho giờ học sinh động hơn. Trong phần chuẩn bị câu hỏi và bài tập nhỏ giáo viên cần chú ý một số yêu cầu sau:

          *Hệ thống câu hỏi phải mang tính liên kết, vừa có câu hỏi cụ thể, vừa có câu mang tính khái quát.

          * Các câu hỏi mang tính lý giải, so sánh cần được sử dụng thường xuyên.

                   Ví dụ: trong bài Bắc Trung Bộ, giáo viên xây dựng một số câu hỏi và bài tập sau:

          * Câu hỏi: Vì sao ở Bắc Trung Bộ lựa chọn cơ cấu nông -lâm- ngư nghiệp kết hợp? Nông nghiệp ở đây khác nông nghiệp Trung du, miền núi Bắc Bộ ở những điểm nào? Ngư nghiệp ở đây có gì giống và khác so với Trung du, miền núi Bắc Bộ?

                   Trong phần trả lời, yêu cầu học sinh phải trả lời được các ý sau :

- Vì lãnh thổ hẹp ngang, trên bề ngang đó có 4 kiểu địa hình, đòi hỏi phải kết hợp mới mang lại hiệu quả kinh tế và đảm bảo phát triển bền vững.

- So sánh: Nông nghiệp :

+ Quy mô sản xuất lương thực của Bắc Trung Bộ nhỏ hơn, điều kiện tự nhiên khó khăn hơn .

+ Cơ cấu nông nghiệp ở 2 vùng đều đa dạng, ngoài cây lương thực còn có cây công nghiệp và chăn nuôi gia súc lớn. Tuy nhiên cây công nghiệp ở Bắc Trung Bộ chủ yếu là các cây nhiệt đới.

      Ngư nghiệp :

+ Sản lượng thuỷ sản của Bắc Trung Bộ lớn hơn.

+ Tất cả các tỉnh của Bắc Trung Bộ đều có khả năng phát triển ngành này

+ Cả 2 vùng đều gặp khó khăn về khí hậu, thời tiết trong việc phát triển thủy sản.

Ví dụ 2: Khi dạy bài Tây Nguyên, cần cho học sinh quan sát bảng số liệu ở bài thực hành, yêu cầu một nhóm so sánh cơ cấu cây trồng, quy mô các loại cây công nghiệp nhóm khác so sánh về điều kiện tự nhiên. Khi hai nhóm trình bày, cả lớp sẽ thấy được sự khác biệt và nguyên nhân sự khác biệt trong sản xuất cây công nghiệp ở hai vùng. Cụ thể như sau:

Câu hỏi: Có sự khác nhau nào trong chuyên môn hóa nông nghiệp giữa Trung du miền núi Bắc Bộ và Tây Nguyên?

Trả lời:
- Trung du miền núi Bắc Bộ chủ yếu trồng cây công nghiệp có nguồn gốc ôn đới và cận nhiệt (chè, trẩu, hồi, quế…). Các cây công nghiệp ngắn ngày: đậu tương, lạc, thuốc lá; cây dược liệu; cây ăn quả… Chăn nuôi trâu, bò thịt, bò sữa, lợn. Vùng có diện tích trồng chè lớn hơn.
- Tây Nguyên chủ yếu trồng cây công nghiệp lâu năm của vùng cận xích đạo (cà phê, cao su, hồ tiêu), chè được trồng ở cao nguyên Lâm Đồng có khí hậu mát mẻ; ngoài ra trồng cây công nghiệp ngắn ngày có: dâu tằm, bông vải… Chăn nuôi bò thịt, bò sữa là chủ yếu.
- Cà phê trồng nhiều ở Tây Nguyên do Tây Nguyên có khí hậu cận xích đạo, đất badan phù hợp với cà phê, còn chè búp chỉ trồng trên các cao nguyên có độ cao trên 1.000 m.
- Chè búp trồng nhiều ở Trung du và miền núi Bắc Bộ do có khí hậu nhiệt đới có mùa đông lạnh thích hợp với cây chè.
- Nguyên nhân: Sự khác nhau là do địa hình, đất trồng, nguồn nước, đặc biệt là sự phân hóa khí hậu.

Tương tự như vậy, trong quá trình dạy các bài khác, giáo viên có thể tự xây dựng các bảng số liệu so sánh từng đơn vị kiến thức để các em tự so sánh, đối chiếu    

Điều đáng lưu ý trong cách làm này là vấn đề thời gian, giáo viên cần tránh đi quá sâu, mở rộng các vấn đề mà cần tập trung vào những nội dung chính, để làm được điều này giáo viên cần yêu cầu cho sự chuẩn bị ở nhà của học sinh, yêu cầu các em tự mình xác định những nội dung nào có nhu cầu cần được so sánh.

Trong phương pháp này, cần kết hợp giữa phương pháp quan sát và phương pháp nêu vấn đề, đặt học sinh vào tình huống phải giảỉ quyết  những vấn đề hoặc giải quyết những mâu thuẫn trong kiến thức, ví dụ : Vì sao là địa bàn trọng điểm lương thực nhưng ĐBSH lại có mức bình quân lương thực thấp? Vậy ĐBSH có thể xuất khẩu lương thực được hay không? Vì sao ? .

II.3.3- Kiểm tra, củng cố thường xuyên với hình thức so sánh :

Cần sử dụng hình thức này trong kiểm tra đầu giờ, hoặc định kỳ với 1 dung lượng vừa phải, xen lẫn với những hình thức khác. Có thể vấn đề đặt ra để so sánh ở cuối bài này sẽ trở thành câu hỏi đầu giờ ở bài kế tiếp, hoặc trong các bài kiểm tra định kỳ cần yêu cầu học sinh phải so sánh theo định hướng của giáo viên.

Ví dụ : Câu hỏi bài kiểm tra 15 phút

 Hãy so sánh tiềm năng và tình hình sản xuất cây công nghiệp của Tây Nguyên với Trung du miền núi phía Bắc theo mẫu sau :

Giống nhauKhác nhau
  

Với cách ra đề này , học sinh buộc phải suy nghĩ và so sánh hợp lý, không thể chỉ liệt kê mà không so sánh .

          Thực ra, kỹ năng này không thể hình thành ngay trong vài tiết học đầu tiên mà nó đòi hỏi phải được rèn luyện thường xuyên bằng sự hướng dẫn của giáo viên và bằng cách học tập theo nhóm.

          Trong phương pháp này, cần lưu ý tránh hình thành cho học sinh một số thói quen so sánh vấn đề một cách máy móc, cường điệu. 

          Ngoài ra, trong bài ôn tập cuối học kỳ, Gv cũng có thể xây dựng một số câu hỏi dạng trắc nghiệm điền khuyết có yêu cầu so sánh để kiểm tra độ chính xác, mức độ hiểu kiến thức của học sinh

Ví dụ :

Hãy điền tiếp vào các ý còn để trống của từng câu :

Câu 1: Thủy lợi là biện pháp hàng đầu ở ĐBSCL và cả ở Đông Nam Bộ, nhưng ý nghĩa hàng  đầu của thủy  lợi 2 vùng khác nhau ở chỗ:

-         ĐBSCL : ......................................................................................................

-         Đông Nam Bộ :............................................................................................

Câu 2: Kinh tế biển của Trung du, miền núi phía Bắc và Đông Nam Bộ khác nhau ở điểm :............................................................................................

Câu 3:  Tây Nguyên là vùng dẫn đầu cả nước về sản lượng........................  và đứng cuối cả nước về .................................................................................

Câu 4: Đông Nam Bộ và Trung du miền núi phía Bắc đều có thế mạnh kinh tế biển, trong đó, Đông Nam Bộ nổi bật hơn về…………………………………

còn  Trung du miền núi phía Bắc lại trội hơn về ………………………………

Câu 5: Trong sản xuất công nghiệp, Bắc Trung Bộ có lợi thế  hơn Duyên hải Nam Trung Bộ ở điểm ……………………………………. và kém hơn ở điểm …………………………………

v.v.

                   II.4- ĐỐI CHIẾU, SO SÁNH KẾT QUẢ :

          Do thời gian ứng dụng chưa nhiều và chỉ giới hạn trong một số lớp 12 của Trường kết quả thu được chưa phản ánh toàn diện những mặt được và chưa được của sáng kiến này. Qua 1 số phiếu đánh giá, 1 số bài tập có liên quan đến các kiến thức và khả năng trình bày, tái hiện kiến thức của học sinh tôi đã có vài cơ sở để đánh giá ban đầu về sự tiến bộ của các em trong việc học tập phần này

Về kết quả kiểm tra giữa HKI, năm học 2013-2014, thống kê về kết quả câu hỏi so sánh có ở trong đề bài (câu 3 điểm), như sau:

                  
 TTLớpĐIỂM>=32<=Đ<3>= 1,5DƯỚI 1,5 
 SLTL(%)SLTL(%)SLTL(%)SLTL(%) 
 112A0600.012.53177.5922.5 
 212A0900.025.92985.3514.7 
 312C13.039.11957.61442.4 
 412D0200.038.62777.1822.9 
                             

          Việc đối chiếu khả năng so sánh các đối tượng địa lý ở đầu và cuối  của phần III chương trình được đánh giá thông qua câu hỏi 2, đề kiểm tra Học kỳ 2 năm học 2013-2014.

TTLớpSĩ sốĐIỂM>=32<=Đ<3>= 1,5DƯỚI 1,5
SLTL(%)SLTL(%)SLTL(%)SLTL(%)
112A064012.53075.040100.000.0
212A093426.12575.83370.013.0
312C3422.91544.12985.3514.7
412D023612.81233.33494.425.6

Qua đối chiếu, tỷ lệ làm được câu hỏi so sánh từ mức trung bình trở lên đạt từ 70% trở lên ở các lớp thực nghiệm. Tiến bộ rõ nhất thể hiện ở lớp 12A06 và 12D02, tất cả các lớp đều có học sinh đạt được điểm tối đa ở câu hỏi so sánh.

III -PHẦN KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

III.1- KẾT LUẬN :

Phương pháp so sánh là phương pháp đặc trưng của môn địa lý. Nhưng trên thực tiễn dạy học địa lý ở các trường THTP hiện nay cho thấy phương pháp so sánh chưa được quan tâm chú ý một cách thích đáng. Vì vậy hiệu quả sử dụng phương pháp này chưa cao, nguyên nhân chủ yếu là do giáo viên chưa nhận thức rõ của tầm quan trọng so sánh trong dạy học địa lý, giáo viên chưa nắm vững được các loại, kiểu, hình thức so sánh chủ yếu trong dạy học địa lý. Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp so sánh trong dạy học địa lý nói chung và địa lý lớp 12 nói riêng thì yêu cầu nắm vững loại, kiểu, hình thức so sánh là rất quan trọng. Giáo viên phải sử dụng phương pháp so sánh theo quan điểm đổi mới. Thêm vào đó giáo viên cần sử dụng kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác ( như phương pháp đàm thoại gợi mở, phương pháp tổ chức cho học sinh tích cực độc lập giải các bài tập nhận thức). Sử dụng có hiệu quả phương pháp này sẽ góp phần vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả bài học.

          Qua thời gian thực hiện đề tài này, bản thân tôi thấy việc áp dụng các phương pháp như đã nêu đã bước đầu mang lại hiệu quả, ngoài việc giúp cho học sinh tránh được lối ghi nhớ máy móc, thiếu linh hoạt còn tạo thêm cho các em khả năng phán đoán, phân tích, tăng thêm sự hứng thú và tính chủ động học tập cho học sinh.

          Tuy nhiên, do thời gian vận dụng còn ít, phạm vi ứng dụng còn hẹp nên vẫn chưa thể đánh giá một cách khách quan những mặt được và chưa được của đề tài. Bản thân tôi trong quá trình vận dụng, những điểm chưa hoàn thiện thường gặp là việc phân phối thời gian cho phần này đôi lúc hơi nhiều so với toàn bộ nội dung giờ học, giáo viên dễ bị sa vào phần giải thích các kết quả so sánh, nhất là khi có  một vài học sinh thắc mắc, do đó ảnh hưởng đến việc dạy và học các nội dung kế tiếp.

          III.2- MỘT SỐ ĐỀ XUẤT:

          III.2.1- Với các cấp lãnh đạo: Tạo điều kiện để trang bị đồ dùng dạy học môn địa lý cho nhà trường. Ngoài bộ bản đồ địa lý ra , cần trang bị thêm một số tranh ảnh minh hoạ, trang bị thêm một số thiết bị hiện đại như đèn chiếu v.v

III.2.2- Với giáo viên bộ môn: Phát huy hơn nữa tính năng động sáng tạo của cá nhân mình. Mạnh dạn đầu tư thử nghiệm một số biện pháp dạy học mới nhằm làm tích cực hoá hoạt động của học sinh trong giờ học, đồng thời vừa tạo tính liên tục trong kiến thức, vừa góp phần cung cấp kiến thức đồng bộ cho học sinh.

Với một hy vọng nhỏ là cùng các đồng nghiệp thực hiện tốt hơn công việc giảng dạy bộ môn địa lý trong trường phổ thông, tôi mạnh dạn viết sáng kiến kinh nghiệm này.Tất nhiên, nội dung của nó không tránh khỏi sự chủ quan ở phần này hoặc phần khác, rất mông nhận được sự góp ý, trao đổi của anh chị em đồng nghiệp để đề tài có thể phát huy được tác dụng của mình./.

                                                Kon tum, tháng 3 năm 2015

                                                Người viết : Nguyễn Duy Quốc

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Sách giáo khoa Địa lý lớp 12, NXB Giáo dục Việt Nam, tái bản lần thứ năm.
  2. Một số đề kiểm tra do Tổ chuyên môn nhà trường thực hiện, năm học 2013-2014.

banner20112017