Website chạy tốt với IE 8 trở lên và tốt nhất trên Firefox hoặc Chrome - màn hình 1024x768

  • Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

ĐÁNH GIÁ NHÂN VẬT TRẦN THỦ ĐỘ

Nói đến nhà Trần (1226 - 1400) là nói đến một triều đại đã có nhiều đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước ta, đã đưa quốc gia Đại Việt lúc bấy giờ phát triển cường thịnh về mọi mặt. Triều đại Trần đã sản sinh nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng mà muôn đời sau còn nhắc đến. Một trong số đó là Trần Thủ Độ - người được một số sử gia xem là “đại khai quốc công thần” của nhà Trần.

Trần Thủ Độ sinh năm Giáp Dần (1194) trong một gia đình làm nghề chài lưới tại làng Lưu Xá, huyện Ngự Thiên, lộ Long Hưng (nay là xã Canh Tân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Mồ côi cha từ nhỏ, ông ở với người anh cả, phải lam lũ tìm kế sinh nhai nên học hành không được bao nhiêu. Tuổi trẻ Trần Thủ Độ được tôi luyện trong một xã hội đầy loạn ly. Chưa đầy 20 tuổi, ông gia nhập hương binh, đến năm 21 tuổi được giao chỉ huy một đội thuỷ binh dưới trướng người anh họ là Trần Tự Khánh. Bằng tài năng và ý chí của mình, năm 30 tuổi ông được nhà Lý phong chức Điện tiền chỉ huy sứ nắm giữ quân hộ vệ cấm đình. Khi vua Lý Huệ Tông nhường ngôi cho công chúa Chiêu Thánh Lý Phật Kim (tức Lý Chiêu Hoàng), ông cùng với Trần Thừa đem Trần Cảnh (con trai Trần Thừa) tác hợp với Lý Chiêu Hoàng, sau đó bức tử Lý Huệ Tông và ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, dựng nghiệp nhà Trần vào khoảng cuối năm Ất Dậu (1225) sang đầu năm Bính Tuất (1226). Sau khi nhà Trần thành lập, Trần Thủ Độ được cử giữ chức Thái sư với quyền thế ngày càng cao. Ông là người có bản lĩnh, quyết đoán, nhiều thủ đoạn chính trị. Tháng Giêng năm Canh Tý (1264) ông mất, thọ 70 tuổi.

Trần Thủ Độ là một nhân vật lịch sử được các nhà sử học từ thời phong kiến đến nay đánh giá với nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, và cũng có cả những ý kiến vừa phê phán vừa bênh vực.

Các sử gia phong kiến mà điển hình là các sử thần nhà Lê với quan niệm đạo đức và tư tưởng trung quân Nho giáo đã đánh giá Trần Thủ Độ rất khắt khe. Họ thường dùng những từ: độc đoán, tàn bạo, gian hùng, bất nhân, có tội với nhà Lý, ít học, loạn luân ... để nói về Trần Thủ Độ. Theo quan điểm của các sử gia phong kiến, Trần Thủ Độ đã phạm các tội lớn sau:

-         Cướp ngôi nhà Lý.

-         Bức tử vua Lý, đàn áp hoàng tộc nhà Lý.

-         Ép Trần Cảnh lấy vợ của anh ruột (Trần Liễu).

-         Thông dâm với hoàng hậu của nhà Lý (Trần Thị Dung).

Theo Trần Trọng Kim trong “Việt Nam sử lược” thì Trần Thủ Độ “đã lấy được nước của người ta lại còn giết vua của người ta. Thật là bất nhân lắm… Trần Thủ Độ một lòng trung lo việc nước nhưng người đời sau gọi là giặc giết vua …”.

Hay ông vua nhà Nguyễn  - Tự Đức cũng có phê ghi trong “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” (của Quốc sử quán triều Nguyễn) với những lời lẽ khá nặng nề: “Trần Thủ Độ là công thần của nhà Trần tức là tội nhân của nhà Lý. Huống chi làm người nếp xấu như chó lợn, dạ độc như hùm beo. Dựng nước mà như thế thì làm thế nào mà lâu dài được.”

Những đánh giá như thế về Trần Thủ Độ liệu có thoả đáng, có khách quan?

Hiện nay, về mặt phương pháp luận khoa học, việc đánh giá một nhân vật lịch sử phải tôn trọng tính đảng, tính giai cấp và phải đứng trên quan điểm lịch sử. Muốn đánh giá đúng một nhân vật lịch sử phải tuân thủ ba nguyên tắc sau:

Một là, phải thấy tác dụng tiến bộ của một số nhân vật hay một nhân vật trong giai cấp thống trị là họ biết coi trọng vai trò của quần chúng nhân dân và góp phần cải thiện đời sống nhân dân trong khuôn khổ thời đại.

Hai là, một số nhân vật nào đó trong giai cấp thống trị sở dĩ họ có những tác dụng tiến bộ là vì họ đồng tình ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân lao động chống áp bức bóc lột, chống ngoại xâm. Họ biết đặt quyền lợi của nhân dân lên trên. Tác dụng tiến bộ của cá nhân lúc này còn ở chỗ họ biết hoạt động theo quyền lợi và nguyện vọng nhân dân, theo xu hướng phát triển chung của lịch sử và gạt bỏ những lợi ích cá nhân nhỏ nhặt.

Ba là, tác dụng tiến bộ của một số nhân vật lịch sử nào đó trong giai cấp thống trị bao giờ cũng có giới hạn vì họ bị ràng buộc vào giai cấp của họ. Sự phát triển của lịch sử là do đấu tranh sản xuất và đấu tranh giai cấp của quần chúng nhân dân thúc đẩy đi lên. Giai cấp thống trị góp phần vào sự phát triển chung đó. Do vậy, cần phải phân biệt một cách rõ ràng tác dụng tiến bộ của những nhân vật thụoc giai cấp thống trị và vai trò có tính chất quyết định của quần chúng nhân dân khi đánh giá nhân vật lịch sử.

Như vậy, theo quan điểm hiện nay, đối với Trần Thủ Độ nói riêng cũng như các nhân vật lịch sử nói chung, chúng ta không thể đánh giá một chiều, không thể đặt họ ra khỏi bối cảnh lịch sử, ra khỏi thời đại mà họ đang sống, phải căn cứ vào những việc làm cụ thể của họ, những cống hiến của họ đối với thời đại, đối với tiến trình phát triển của lịch sử.

Trước hết, về những đánh giá của các sử gia thời phong kiến và thời thuộc Pháp đối với Trần Thủ Độ, ta thấy: việc họ có ấn tượng không tốt về cách hành xử của Trần Thủ Độ lúc bấy giờ cũng là lẽ thường tình, nhưng việc họ buộc cho ông những tội lớn mà không đánh giá đúng mức vai trò, công lao của ông đối với bước đường phát triển lịch sử dân tộc thì rõ ràng là chưa thoả đáng.

Tất nhiên, những việc làm của Trần Thủ Độ như: bức tử Lý Huệ Tông, truy bức hoàng tộc nhà Lý để “nhổ cỏ tận gốc”, ép Trần Thái Tông lấy vợ của anh để có con nối dõi v.v.. là có tính tàn bạo, không phù hợp truyền thống đạo đức người Việt. Nhưng cũng phải thấy được tính quyết đoán và những thủ đoạn chính trị của ông là cần thiết trong bối cảnh triều Lý đã hoàn toàn suy thoái (Lý Huệ Tông từ lâu đã điên loạn…), không còn vai trò lịch sử, xã hội đang loạn lạc cần có một triều đại mới với sức sống mới. Nhân dân Đại Việt lúc đó vừa trải qua thời hậu Lý suy loạn, nay sống dưới thời nhà Trần đang lên với những ông vua văn võ song toàn (những ông vua đầu thời Trần) biết chăm lo sức dân nên mặc dù họ không đồng tình với những việc làm của Trần Thủ Độ song vẫn không nổi dậy chống đối Trần Thủ Độ và nhà Trần. Nhờ vậy, đất nước vẫn được ổn định, đoàn kết.

Và điều quan trọng cần lưu ý khi đánh giá về Trần Thủ Độ là: mọi việc ông làm không vì lợi ích cá nhân ông mà đều phục vụ lợi ích dòng họ Trần và cơ nghiệp nhà Trần. Ngôi vua mà ông tìm mọi cách giành lấy là để cho cháu ông (Trần Cảnh) chứ không phải cho ông, mặc dù với quyền lực của mình lúc đó (“quyền hơn cả vua” - sử cũ), ông hoàn toàn có thể lấy ngôi vua cho mình một cách dễ dàng. Không chỉ toàn tâm toàn ý gây dựng cơ nghiệp nhà Trần, Trần Thủ Độ còn thể hiện là một tấm gương tận tuỵ, luôn lo cho sự an nguy của xã tắc. Khi Trần Thái Tông phản đối việc lấy chị dâu bằng cách bỏ kinh thành lên Yên Tử, Trần Thủ Độ đã buộc Trần Thái Tông phải quay về Kinh bằng câu nói: “Bệ hạ vì mục đích tu lấy cho riêng mình mà làm thế thì được, nhưng còn quốc gia xã tắc thì sao? Ví để lời nói xuông mà bảo đời sau thì sao bằng lấy chính bản thân mình làm người dẫn đạo cho thiên hạ”.

Nghiên cứu bối cảnh lịch sử lúc đó và những việc làm cụ thể của Trần Thủ Độ, ta thấy được công lao to lớn của ông đối với việc dựng lên cơ nghiệp vương triều Trần cũng như đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

1. Vai trò của Trần Thủ Độ trong việc dựng lên cơ nghiệp nhà Trần

Có thể nói, Trần Thủ Độ là một “kiến trúc sư”, một người “sáng nghiệp” của triều đại Trần. Ông đã rất khôn khéo trong việc sắp xếp tình hình chính sự cuối thời Lý để gây dựng cơ nghiệp nhà Trần. Ông là tác giả vụ chính biến ngày 12 tháng Chạp năm Ất Dậu (tức ngày 11/1/1226) dưới hình thức Lý Chiêu Hoàng tuyên bố nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Dưới bàn tay đạo diễn tài ba của Trần Thủ Độ, cuộc chuyển giao quyền lực từ họ Lý sang họ Trần đã diễn ra êm thắm và hầu như không có sự chống đối nào đáng kể từ phía quý tộc họ Lý. Trong bối cảnh đất nước thời hậu Lý suy thoái trầm trọng, nhà Lý không còn đảm đương được vai trò lịch sử, việc Trần Thủ Độ tổ chức thủ tiêu triều Lý, lập nên triều Trần là một hành động rất sáng suốt, dũng cảm, phù hợp với đòi hỏi khách quan của lịch sử. Hành vi bức tử Lý Huệ Tông có thể là tàn bạo nhưng cần thiết, có lợi cho thời đại. Có thể nói, với cuộc chính biến này, Trần Thủ Độ đã cứu đất nước thoát khỏi cơn khủng hoảng hiểm nghèo, vực nước Đại Việt lên thành một quốc gia mạnh mẽ để sau đó đủ sức đánh tan những cuộc xâm lăng của đế chế Mông Nguyên.

Ngay các sử gia phong kiến thời Lê mặc dù chê trách, lên án việc Trần Thủ Độ giết Lý Huệ Tông nhưng cũng phải công nhận tài năng và công lao của ông đối với nhà Trần: “Trần Thủ Độ tuy không có học vấn nhưng tài lược hơn người. Thái Tông mà lấy được thiên hạ là nhờ vào công lao của ông” (Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 1, NXB Giáo dục 1998 – trang 176).

2. Công lao của Trần Thủ Độ trong công cuộc xây dựng đất nước

Thông qua các hoạt động của mình, ông tỏ ra là một nhà chính trị sâu sắc, một nhà tổ chức đại tài, sớm nhận thức rõ những yêu cầu lịch sử đặt ra đối với nhà Trần. Ông có công lớn trong việc xây dựng một nhà nước Phật giáo nhưng vẫn có tính chất pháp quyền, xây dựng nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền vững mạnh, thống nhất từ trung ương đến địa phương. Ở trung ương, ông đặt ra chế độ Thái Thượng hoàng – là một nét độc đáo trong thể chế quân chủ thời Trần. Nhờ đó, nhà Trần có thể sớm chuyển giao thế hệ người đứng đầu nhà nước, rèn luyện và đào tạo người kế cận trong lúc vua cha còn khoẻ mạnh. Và cũng nhờ đó tránh được tình trạng tranh chấp ngôi vua thường xảy ra trong lịch sử chế độ quân chủ. Ở địa phương, ông chia nước thành 12 lộ, mỗi lộ đặt chức An phủ sứ chịu mệnh vua trấn trị ở các lộ. Dưới quyền An phủ sứ có các chức quan đại tư xã, tiểu tư xã cùng chức xã quan. Như vậy là đến cấp xã đều có quan triều đình bổ  nhiệm về cai trị.

Ông là người đề cao tư tưởng pháp trị trong việc giữ nghiêm phép nước (nhưng vẫn coi trọng đức trị). Năm Canh Dần (1230), ông cho xét các lệ của triều trước, định ra quy chế hành chính, soạn thành văn gọi là Quốc triều thống chế gồm 20 quyển, đồng thời định tội đồ theo thứ bậc khác nhau. Đó là bước khởi đầu cho bộ Hình luật của nhà Trần. Không chỉ đề cao tư tưởng pháp trị, ông còn là người gương mẫu thực hiện và khuyến khích mọi người thi hành đúng luật lệ. Sử ghi rằng lúc Thái Tông vừa mới ra chấp chính, có 1 vị quan khóc nói với Thái Tông rằng: “Bệ hạ làm vua mà Thủ Độ còn quyền hơn cả vua, như vậy xã tắc sẽ ra sao?”, Thái Tông vội xa giá cùng viên quan đàn hặc nọ đến nhà Trần Thủ Độ và thuật lại lời vị quan đàn hặc ông. Thủ Độ ngẫm nghĩ rồi nói: “Quả đúng như lời người này nói” rồi sai lấy vàng lụa thưởng cho vị quan dám nói thẳng.

Hay câu chuyện sau mà sử cũ chép lại cũng cho ta thấy rõ tư tưởng pháp trị của ông: Một hôm Linh Từ Quốc Mẫu (Trần Thị Dung) ngồi kiệu đi qua chỗ thềm cấm, quân hiệu ngăn lại không cho bà qua. Bà tức giận nói với ông: “Mụ này là vợ ông mà bọn quân hiệu khinh lờn quá thể”. Nghe vợ than, Thủ Độ cho lính bắt ngay tên lính quân hiệu kia đến. Ai cũng nghĩ phen này tên này nhất định rơi đầu. Thế mà Trần Thủ Độ sau khi nghe tên lính biện bạch đã nói: “Ngươi ở chức thấp mà biết giữ phép nước thế là tốt”, rồi lại ban tiền cho anh ta.

Ông có nhiều ý kiến trong việc chăm lo đê điều, khuyến khích phát triển nông nghiệp, đẩy mạnh một bước chế độ tư hữu hoá ruộng đất, nhất là chế độ điền trang thái ấp. Điều này không chỉ phục vụ lợi ích quý tộc Trần mà còn có ý nghĩa quan trọng về kinh tế, quân sự… Năm 1248 đắp đê Đỉnh nhĩ và đặt chức quan Hà đê chánh phó sứ để trông coi.

Ngoài ra, ông còn quan tâm đào tạo nhân tài, xây dựng lực lượng vũ trang, mở mang văn hoá - giáo dục, chăm lo xây dựng khối đoàn kết về mọi mặt…

3. Công lao của Trần Thủ Độ trong việc bảo vệ cương vực lãnh thổ, bảo vệ sự ổn định và nền độc lập của tổ quốc

Sau khi triều Trần vừa thành lập, tháng 2/1226, ông đã đem quân đánh dẹp lực lượng chống đối của Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng và các cuộc nổi dậy ở vùng núi Tây Bắc. Bằng sức mạnh quân sự và sách lược chính trị khéo léo, ông đã dẹp tan các thế lực ly khai, ổn định đất nước.

Trong cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên lần thứ nhất (1258), khi vua Thái Tông và một số triều thần tỏ ra dao động trước thế mạnh của giặc, Thái sư Trần Thủ Độ - “linh hồn” của nhà Trần và của cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên lúc ấy đã  nói: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” thể hiện sự vững vàng, tin tưởng và ý chí quyết chiến đấu đến cùng của ông. Câu nói của Trần Thủ Độ đã làm cho vua tôi nhà Trần vững dạ, tin tưởng vào sức mạnh của mình và động viên cả nước quyết chiến quyết thắng quân xâm lược, từ đó góp phần làm nên chiến thắng của ta trong cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên lần thứ nhất.

Như vậy, Trần Thủ Độ không chỉ là người sáng lập, xây dựng cơ nghiệp nhà Trần mà còn là người trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, điều hành xây dựng đất nước và bảo vệ đất nước. Trong bối cảnh nhà Trần mới thành lập, vua còn nhỏ tuổi, bộn bề công việc, cương vực lãnh thổ bị đe doạ, ông đã đứng ra cáng đáng mọi công việc nhằm xây dựng nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền vững mạnh có nền kinh tế phát triển, có lực lượng quân đội hùng hậu, có nền văn hoá giáo dục tiên tiến, trọng dụng người tài v.v..

Trần Thủ Độ cũng là một điển hình mẫu mực về lòng tận tuỵ, đức liêm chính, đi đầu trong việc chống các hiện tượng tiêu cực (hối lộ, lợi dụng chức quyền,…), đảm bảo luật pháp nghiêm minh. Có thể nói: đằng sau một con người đầy cá tính và nhiều thủ đoạn là một nhân cách lớn, một tài năng hơn người, một tấm lòng tận tuỵ, hi sinh cả cuộc đời vì sự dựng lập và vững vàng của cơ nghiệp nhà Trần.

Đến nay mặc dù vẫn còn nhiều ý kiến chưa hoàn toàn thống nhất trong việc đánh giá Trần Thủ Độ, nhưng với những gì mà Trần Thủ Độ đã làm được cho triều đại Trần, cho lợi ích dân tộc thì công lao của ông vẫn mãi được muôn đời khắc ghi. Cũng vì thế, ngay chính nhân dân ở Tiên Sơn – Hà Bắc (quê hương của nhà Lý) đã dựng đền thờ Trần Thủ Độ và ghi câu đối:

Công đáo vu kim bất đãn Trần gia nhị bách tải

Luận định thiên cổ kỳ tại Nam thiên đệ nhất lưu.

Dịch nghĩa: Công đức của ông để mãi đến ngày nay, không chỉ bó hẹp trong 200 năm đời Trần. Sau nghìn đời, công luận đã định, ông đáng liệt vào bậc nhất dưới trời Nam.

--------------o0o---------------

 

BGD NQ29