Website chạy tốt với IE 8 trở lên và tốt nhất trên Firefox hoặc Chrome - màn hình 1024x768

  • Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦNG CỐ NHẬN THỨC CHO HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC LỊCH SỬ

 

Hoạt động củng cố bài học lịch sử trên lớp là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống các hoạt động được giáo viên tổ chức cho học sinh thực hiện nhằm hoàn chỉnh tiến trình dạy học trên lớp, giúp học sinh hệ thống hoá kiến thức cơ bản, rèn luyện kĩ năng tư duy, thực hành bộ môn, giúp giáo viên lồng ghép các nội dung giáo dục tư tưởng, thái độ, tình cảm cho học sinh. Đồng thời, qua hoạt động củng cố giúp giáo viên đánh giá được mức độ hiểu bài của học sinh và sửa chữa, bổ sung kiến thức kịp thời. Từ đó, giáo viên có định hướng tốt hơn về nội dung và phương pháp giảng dạy trong các giờ học tiếp theo.

Trong thực tế, do nhiều nguyên nhân mà hoạt động củng cố nhận thức đã bị nhiều giáo viên bỏ qua trong tiến trình dạy học trên lớp hoặc có thực hiện nhưng lại mang tính hình thức không hiệu quả.

Vì thế, vấn đề đặt ra ở đây là: giáo viên phải biết tìm tòi, sáng tạo những cách thức, biện pháp củng cố bài học một cách hấp dẫn, mới lạ và hiệu quả để lôi cuốn học sinh tích cực tham gia hoạt động củng cố bài học lịch sử trên lớp.

Xuất phát từ kinh nghiệm, thử nghiệm của bản thân và đồng nghiệp qua nhiều năm giảng dạy, tôi xin đề xuất một số giải pháp “Nâng cao hiệu quả hoạt động củng cố nhận thức học sinh trong giờ học lịch sử ở trường trung học phổ thông” nhằm góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng dạy và học bộ môn.

1. Một số yêu cầu đối với hoạt động củng cố nhận thức trong giờ học lịch sử:

-       Phải thể hiện và làm nổi bật kiến thức trọng tâm của bài học, đồng thời đảm bảo tính hệ thống, tính logic giữa các phần, các chương, các bài, các tiết học.

-       Đảm bảo tính cô đọng, súc tích trong hình thức diễn đạt (cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết).

-       Hình thức củng cố phải hấp dẫn, ít nhiều mang yếu tố bất ngờ, thu hút sự chú ý và lôi cuốn học sinh cả lớp cùng tham gia.

-       Nội dung củng cố, độ khó của kiến thức phải phù hợp với trình độ thực tế của học sinh.

-       Kết hợp trong hoạt động củng cố các yêu cầu rèn luyện kĩ năng và giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh.

2. Đề xuất các giải pháp thực hiện:

2.1. Củng cố bằng câu hỏi nêu vấn đề được giáo viên đưa ra ở đầu tiết học

Trước khi giảng dạy bài mới, giáo viên đưa ra tình huống có vấn đề, cụ thể hoá bằng câu hỏi nêu vấn đề viết trực tiếp lên bảng và lưu ý học sinh theo dõi bài học để tìm ra câu trả lời. Như vậy, câu hỏi nêu vấn đề ở đầu tiết học cũng chính là câu hỏi củng cố bài ở cuối tiết học.

Chẳng hạn, khi dạy nội dung “Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945” (Lịch sử 12), giáo viên có thể nêu vấn đề: Tại sao Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi một cách tương đối nhanh chóng và ít đổ máu? (Có thể yêu cầu học sinh viết câu hỏi vào vở học).

Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần làm nổi bật trọng tâm thông qua hệ thống câu hỏi có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến câu hỏi nêu vấn đề đã đặt ra từ đầu. Sau khi học sinh trả lời, giáo viên tiếp tục bổ sung, sửa chữa và nâng cao kiến thức cho học sinh.

2.2. Củng cố bài học bằng sơ đồ, bản đồ, tranh ảnh

- Ví dụ 1: Dùng sơ đồ “Sự phát triển đi lên của cách mạng Pháp 1789” để củng cố bài “Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII” (Lịch sử 10 chuẩn và Lịch sử 11 nâng cao). Giáo viên tóm tắt (hoặc cho học sinh tóm tắt) các giai đoạn phát triển của cách mạng Pháp kèm theo các câu hỏi: Giai đoạn nào là đỉnh cao của cách mạng Pháp? Nhờ đâu cuộc cách mạng này phát triển đi lên?.

- Ví dụ 2: Dùng sơ đồ “Nguyên nhân tan rã xã hội nguyên thuỷ’ để củng cố bài “Xã hội nguyên thuỷ” (Lịch sử 10).

Giáo viên nên sử dụng hình thức sơ đồ chưa hoàn chỉnh hoặc sơ đồ mà giáo viên cố tình sắp xếp không chính xác để cho học sinh tự phát hiện và sửa lại cho đúng. Các ô chữ (bao gồm các cụm từ: công cụ kim loại, sản phẩm thừa thường xuyên, tư hữu, gia đình phụ hệ, người giàu người nghèo, xã hội có giai cấp và nhà nước) được viết trên những tờ giấy khác nhau nên rất tiện lợi cho việc sắp xếp trên bảng (với điều kiện phải có bảng từ và nam châm). Sau khi học sinh đã sắp xếp đúng logic sơ đồ, giáo viên có thể yêu cầu học sinh giải thích vì sao lại xếp như thế. Đồng thời, giáo viên cũng có thể dựa trên sơ đồ đó ra bài tập về nhà cho học sinh: “Trên cơ sở các cụm từ đã cho: công cụ kim loại, sản phẩm thừa thường xuyên, tư hữu, gia đình phụ hệ, người giàu người nghèo, xã hội có giai cấp và nhà nước, em hãy viết một đoạn văn trình bày nguyên nhân tan rã của xã hội nguyên thuỷ”.

- Ví dụ 3: Dùng bản đồ “Chiến dịch Biên giới thu đông 1950” để củng cố bài bằng cách cho học sinh lên trình bày lại kết quả chiến dịch kết hợp với chỉ bản đồ. Từ đó, học sinh được trực quan sinh động về sự lớn mạnh của quân đội ta sau chiến thắng Biên giới (Gợi ý cho học sinh so sánh với chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947).

2.3. Củng cố bài học bằng phim tư liệu lịch sử

Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, với sự đầu tư ngày càng lớn của toàn xã hội cho ngành giáo dục, nhiều trường phổ thông đã có điều kiện áp dụng công nghệ hiện đại trong giảng dạy. Nếu chưa có đủ điều kiện về phương tiện hoặc chưa đủ khả năng soạn giảng giáo án điện tử, giáo viên vẫn có thể sử dụng đầu đọc đĩa và tivi để chiếu phim tư liệu lịch sử trên lớp. (Nguồn phim: từ các Đài truyền hình, từ các cửa hàng băng đĩa, từ Internet,…) Thời gian tối đa cho một đoạn phim dùng để củng cố không nên quá 3 phút, vì còn dành thời gian để đặt câu hỏi và học sinh trả lời.

Ví dụ:

-          Củng cố tiết học “Cuộc tiến công chiến lược đông - xuân 1953 - 1954 và chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ” (Lịch sử 12), giáo viên có thể dùng đoạn phim ta bắt sống tướng Đờ Cát và lá cờ “quyết chiến quyết thắng” tung bay trên nóc hầm Đờ Cát với câu hỏi: Kết quả, ý nghĩa thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ? (Về ý nghĩa, giáo viên có thể gợi ý cho học sinh về 4 chữ “quyết chiến quyết thắng” đang tung bay để học sinh rút ra ý nghĩa “thể hiện cao độ tinh thần quyết chiến quyết thắng của quân và dân ta”…).

-          Củng cố tiết học “Miền Bắc chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất” (Lịch sử 12), giáo viên cho học sinh xem đoạn phim Bác Hồ đọc Lời kêu gọi quân dân cả nước quyết chiến quyết thắng giặc Mĩ xâm lược (ngày 17/7/1966) và trả lời câu hỏi: Qua đoạn phim lịch sử trên, em hãy cho biết vì sao đế quốc Mĩ thất bại trong chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất?.

-          v.v..

Củng cố bài học dưới hình thức này chắc chắn sẽ tạo được sự hấp dẫn, lôi cuốn sự chú ý của học sinh và tạo nên hiệu quả tiết học rất cao.

2.4. Củng cố bài học bằng bảng tóm tắt, bảng so sánh các sự kiện, hiện tượng lịch sử

Bảng tóm tắt, bảng so sánh có ưu điểm rất lớn trong việc củng cố kiến thức vì nó khái quát được, làm nổi bật được trọng tâm của bài học.

Ví dụ:

-          Bảng tóm tắt những thành tựu xây dựng CNXH của Liên Xô 1921 - 1941 để củng cố bài “Liên Xô xây dựng CNXH (1921 - 1941)” (Lịch sử 11).

-          Bảng tóm tắt cách mạng tư sản Anh về hình thức, nhiệm vụ, lực lượng lãnh đạo, động lực, kết quả, tính chất, ý nghĩa của cuộc cách mạng để củng cố bài “Cách mạng tư sản Anh giữa thế kỉ XVII” (Lịch sử 10 chuẩn và Lịch sử 11 nâng cao).

-          Bảng so sánh đường lối cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh để củng cố bài “Phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam đầu thế kỉ XX đến chiến tranh thế giới thứ nhất (1914)” (Lịch sử 11).

-          v.v..

Cách vận dụng: giáo viên có thể đã ghi sẵn đầy đủ nội dung từ trước hoặc khi sử dụng mới cho học sinh hoàn thành.

Đối với loại đã ghi sẵn, muốn tạo được sự tò mò, lôi cuốn học sinh thì giáo viên nên dùng giấy trắng che lại nội dung để sau khi học sinh trả lời xong sẽ lấy tờ giấy che ra và học sinh sẽ biết được mình trả lời đúng hay sai.

Ngoài ra, tuỳ trình độ học sinh và tuỳ vào ý đồ lên lớp mà giáo viên có thể củng cố bằng bảng so sánh theo cách thức sau: Nếu so sánh giữa A và B thì giáo viên chỉ ghi trước nội dung của phần A trên giấy. Đến khi củng cố, học sinh sẽ so sánh và tự mình ghi tiếp nội dung của phần B trên bảng (đảm bảo sự linh hoạt, dễ sửa chữa và đảm bảo tính kinh tế của đồ dùng).

Sau khi học sinh đã hoàn thành bảng tóm tắt, bảng so sánh, giáo viên nên đặt câu hỏi cho học sinh nhận xét, đánh giá để phát triển tư duy học sinh và làm rõ hơn trọng tâm bài học. Nếu không còn thời gian, giáo viên có thể chuyển thành bài tập về nhà cho học sinh hoàn thành và đến tiết học sau sẽ dùng để kiểm tra bài cũ.

2.5. Củng cố bài học bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan

Đây là một hình thức củng cố có ưu điểm là tiết kiệm được thời gian và kiểm tra được nhận thức của nhiều học sinh, đồng thời phù hợp với yêu cầu đổi mới kiểm tra, đánh giá hiện nay.

Đối với loại trắc nghiệm có nhiều lựa chọn, giáo viên nên chuẩn bị trước trên giấy khổ lớn và cho học sinh giơ tay thể hiện sự lựa chọn của mình đối với từng phương án. Bằng cách này, giáo viên sẽ kiểm tra được nhận thức của cả lớp.

Đối với loại trắc nghiệm điền khuyết, trắc nghiệm đối chiếu - cặp đôi, giáo viên nên cho một học sinh lên bảng làm cho cả lớp theo dõi, sau đó gọi học sinh khác bổ sung, sửa chữa. Hoặc giáo viên có thể phát phiếu học tập có ghi sẵn câu hỏi trắc nghiệm cho học sinh làm, sau đó giáo viên kiểm tra xác suất và có thể cho điểm tại chỗ. Hoặc, giáo viên cũng có thể gợi ý và khuyến khích các học sinh khá giỏi tự ra câu hỏi trắc nghiệm khách quan cho cả lớp làm (tất nhiên phải thông qua giáo viên để đảm bảo sự chuẩn xác của câu hỏi).

Ngoài ra còn có những cách thức khác tuỳ sự vận dụng sáng tạo của từng giáo viên và tuỳ vào điều kiện thực tế cho phép.

Cần lưu ý, việc phân chia các hình thức củng cố như trên chỉ mang tính tương đối, giáo viên nên sử dụng phối hợp, đan xen giữa các hình thức một cách linh hoạt, sáng tạo để tạo thêm yếu tố hấp dẫn, bất ngờ, hứng thú đối với học sinh.

Như vậy, hoạt động củng cố nhận thức cho học sinh nếu được giáo viên chú tâm thực hiện một cách sáng tạo sẽ là một việc làm không chỉ góp phần tạo hứng thú và nâng cao chất lượng học tập của học sinh mà còn là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp giáo viên nâng cao tay nghề chuyên môn. Các hình thức củng cố mới lạ cần được khuyến khích nhưng đồng thời cũng cần được xem xét, rút kinh nghiệm kịp thời về tính hiệu quả.

(Trích từ Sáng kiến kinh nghiệm - GV Nguyễn Trung Quân)

 

panner20 11